Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc

Văn mẫu lớp 12
Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc
5 (100%) 480 đánh giá

Đề bài: Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc.

Bài làm

Nhắc đến thơ ca Cách mạng Việt Nam thì không thể không nói tới nhà thơ Tố Hữu. Sự nghiệp văn chương của ông gắn liền với những chuyển biến trong đời sống cách mạng. Bài thơ Việt Bắc chính là tác phẩm được xem là đỉnh cao thơ ca kháng chiến của nhà thơ Tố Hữu.

Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc

Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc

Việt Bắc là bài thơ mang màu sắc trữ tình dân gian được viết theo thể thơ lục bát truyền thống. Ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi và hình ảnh giàu chất thơ, chất nhạc từ cuộc chia tay giữa những đồng bào Việt Bắc với những chiến sĩ cách mạng. Qua tác phẩm Tố Hữu đã tái hiện cuộc sống và chiến đấu ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ, đầy mất mát, hi sinh nhưng lại thấm đẫm tình cảm quân dân, giữa những người miền ngược với những người miền xuôi. Điều này chúng ta bắt gặp ở ngay tám câu thơ đầu của bài thơ. Ở tám câu thơ đầu là cảnh đưa tiễn đầy lưu luyến, bịn rịn của người ra đi và người ở lại ở chiến khu Việt Bắc:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuân trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Ở tám câu thơ này người đọc có thể thấy rõ được bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại và bốn câu thơ sau là lời của người ra đi. Như ta đã biết bài thơ này được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 là lúc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi và hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Trong hoàn cảnh lịch sử giao thời ấy cơ quan trung ương Đảng rời từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội và Tố Hữu đã khắc họa giây phút chia ly đầy xúc động. Kết câu theo lời hỏi đáp rất quen thuộc giống với lối hát giao duyên. Tuy nhiên trong lối hát giao duyên là giữa chàng trai và cô giái thì bài thơ là lời hỏi đáp giữa người ở lại và người ra đi.

Đầu tiên là tiếng nói trữ tình, lời hỏi của người ở lại:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăn năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”

Bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng lại xuất hiện hai câu hỏi tu từ “có nhớ” và điệp bốn chữ “nhớ” để diễn tả tâm trạng, cảm xúc dồn dập, mãnh liệt của người ở lại. Cách xưng hô “mình” – “ta” rất quen thuộc, bình dị. Vốn chữ “mình” phải là để chỉ người ở lại nhưng tác giả lại sử dụng nó chỉ người ra đi. Bên cạnh đó còn có ý biểu đạt là câu hỏi mà người ở lại tự hỏi chính mình, tự vấn bản thân mình. Cho nên ta có thể thấy mình và ta giống như hai nhưng lại là một, giữa họ có thứ tình cảm gắn bó, keo sơn, rất gần gũi mà thân quen. Trong lời chia tay ấy người ở lại không quên nhắc lại quãng thời gian từng chung sống và chiến đấu kề vai sát cánh bên nhau đó là “mười lăm năm”. Có thể nói đây là khoảng thời gian dài, giữa người miền ngược với người miền xuôi đã có với nhau biết bao kỷ niệm. “Mười lăm năm tình nghĩa” bắt đầu tời ngày mới lên thành lập chiến khu cho tới ngày tập làm quen với hoàn cảnh nơi đây và dần trở nên quen thuộc hơn bao giờ hết.

Người ở lại khơi gợi những kỷ niệm không chỉ ở thời gian mà còn cả ở không gian. Không gian núi rừng Việt Bắc. Câu hỏi tu từ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” cho ta thấy không gian không chỉ riêng miền ngược nơi chiến khu mà còn song song với không gian của miền xuôi. Nếu người ra đi trở về quê hương của họ và khi nhìn thấy những cảnh những vật ở xuôi có hay chăng nhớ tới miền ngược Ở đây “sông”, “cây” chính là biểu tượng cho không gian ở miền xuôi và “núi” và “nguồn” để chỉ không gian miền ngược. Cuộc chia ly đã diễn ra và trước tình cảm của người ở lại thì người ra đi cũng có sự đáp lại:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Trước nỗi niềm thương nhớ của người miền ngược thì người miền xuôi cũng đầy ắp những bâng khuâng, tha thiết. Người miền ngược thể hiện niềm thương nhớ bằng hai câu hỏi tu từ khiến cho người miền xuôi không thốt nên lời. Nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng hai từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” để diễn tả tâm trạng của người ra đi. Những tình cảm trong mười lăm năm trời gắn bó thiết tha chứ đâu phải ngày một ngày hai mà có thể dễ dàng quên được, đó là tình cảm tha thiết sâu sắc không có gì có thể miêu tả hết được. Hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” chính là một hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. màu áo chàm chính là màu xanh đen đặc trưng của núi rừng Việt Bắc, là chiếc áo đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo nhưng lại gắn bó và đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến. Chiếc áo chàm còn để chỉ chính những đồng bào Việt Bắc. Ở câu tám “biết nói gì hôm nay” không phải không có gì để nói mà là sự xúc động nghẹn nghào không nói nên lời và hành động “cầm tay nhau” chính là để biểu đạt cảm xúc của người ra đi.

Với thể thơ lục bát truyền thống, chỉ bằng tám câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc nhà thơ đã diễn tả đặc sắc tình cảm gắn bó, tha thiết giữa những chiến sĩ cách mạng với đồng bào trung du miền núi phía Bắc. Đoạn thơ đem lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về tinh thần đoàn kết của dân tộc và trở thành đoạn thơ tiêu biểu trong phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu.

Mai Du