Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Văn mẫu lớp 11
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận.

Bài làm

Nhắc đến thơ ca mang cảm hứng từ nỗi buồn miên man, da diết thì không thể không nhắc tới Huy Cận. Nỗi buồn thấm đượm trong các bài thơ viết về thiên nhiên của ông là nỗi buông tiêu biểu cho cả thế hệ phong trào Thơ mới. Bài thơ Tràng giang chính là một trong số đó.

Tràng giang được trích từ tập Lửa thiêng và là tác phẩm thể hiện nỗi buồn của nhà thơ trước cảnh trời rộng, sông dài bởi ngay từ nhan đề Tràng giang chúng ta đã thấy được điều đó. Mở đầu bài thơ, Huy Cận đã cho chúng ta thấy được cảnh sông nước:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Ngay câu thơ đầu tiên đã gợi mở cho người đọc một không gian bao la sông nước. Trên dòng tràng giang ấy thì sóng gợn nối nhau. Nó được thể hiện rõ ràng qua từ láy “điệp điệp: để chỉ sự nối tiếp của những con sóng tựa như kéo dài đến tận chân trời. Giữa dòng sông nước mênh mông ý thì gắn liền với nó là con thuyền trôi xuôi. Thuyền với sông gắn liền với nhau. “Sầu trăm ngả” thể hiện nỗi buồn có mặt khắp mọi nơi chứ không riêng gì một lối. Để nhấn mạnh hơn sự nhỏ nhoi, cô đơn bổ sung cho hình ảnh con thuyền đó chính là hình ảnh “củi một cành khô”. Con thuyền giữa dòng sông chúng ta đã cảm thấy bé nhỏ thì nay cành củi lại càng làm tăng cảm giác về sự trôi nổi, lênh đênh sông nước không biết trôi dạt về đâu. Hình ảnh ấy gợi liên tưởng tới những kiếp người nhỏ bé, lạc dõng và bị dòng đời đưa đẩy chưa có bến đậu và không biết đâu là điểm dừng. Chỉ với bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng tác giả đã sử dụng rất thiều biện pháp nghệ thuật khác nhau để tăng sức biểu cảm. Đầu tiên phải nói đến những từ láy: “song song”, “điệp điệp” tiếp đến đó chính là thủ pháp tương phản, đối lập. Đối lập giữa dòng sông mênh mông với cành củi khô nhỏ bé. Âm hưởng chung của khổ thơ đầu chính là nỗi buồn, nỗi buồn ấy giống như con sóng, lớp sau đè lớp trước tạo thành nỗi sầu trăm ngả.

Nếu khổ thơ đầu cho ta cảm nhận vè chiều rộng của cảnh vật thì đến với khổ thơ thứ hai, tác giả sẽ cho chúng ta cảm nhận về chiều rộng, cao của cảnh vật:

Loading...

“Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Chúng ta hiểu “cồn nhỏ” ở đây chính là cồn đất nhỏ ở giữa dòng sông, chỉ còn lơ thơ vài ngọn cỏ trong khung cảnh đìu hiu, vắng lặng. Thậm chí khi nhắc đến phiên chợ người ta sẽ cảm giác được một khung cảnh ồn ào, vắng lặng ấy vậy mà không hề, người ta thậm chí còn không nghe được tiếng ồn ào. Từ đó cho ta cảm nhận về sự vắng lặng đến cả phiên chợ cũng hiu hắt, buồn hiu quạnh. Khung cảnh càng thêm mênh mông trống vắng khi tác giả tiếp tục miêu tả bề sâu, cao của cảnh vật: “Nắng xuống trời lên sâu chót vót”. Tác giả sử dụng từ “sâu” thay vì “cao chót vót” gợi lên độ sâu hun hút, không nắm bắt hết được và chốt lại bằng nỗi “cô liêu”. Nỗi buồn sầu thảm được tác giả đúc kết được qua hình ảnh trời và sông để đặc tả sự mênh mông vô tận của cảnh vật.

Khi đến khổ thơ thứ ba dường như chúng ta thấy được Huy Cận đang muốn tìm kiếm sự ấm áp, vui tươi giữa chốn cảnh vật hiu quạnh. Ấy vậy mà sự thực lại phũ phàng:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Cảnh vật nối tiếp cảnh vật và giờ đây đã có sự chuyển động và không còn tĩnh lặng như khổ thơ trên nữa. Bèo là loài cây thường thấy trên sông nước và sự chuyển động của nó được tác giả miêu tả bằng từ “dạt”. Đây là một từ diễn tả về sự trôi nổi, không có định hướng, không có nơi bấu víu, không biết sẽ trôi về đâu và dừng ở chốn nào. Từ đó khi tác giả nhìn khắp dòng sông và thất vọng khi không hề thấy tồn tại sự sống của con người bởi “không một chuyên đò ngang”. Mong muốn được gửi niềm thương nhớ về với quê hương nhưng đáp trả sự ngóng trông ấy chỉ là cảnh thiên nhiên “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Tiếp tục dòng chảy của mạch cảm xúc là nỗi buồn ấy thì khổ thơ cuối Huy Cận tạo nên những nét chấm phá rất đặc sắc về cảnh vật nhưng bên cạnh đó cũng nói lên tâm tư tình cảm của nhà thơ:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Tâm tư, tình cảm của nhà thơ được gửi gắm trọn vẹn qua hai câu thơ cuối đó là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của một người con xa xứ. Huy Cận không biết gửi gắm niềm thương nhớ ấy vào đâu mà chỉ biết gửi qua những vần thơ chất chứa tâm trạng. Nỗi nhớ ấy luôn thường trực chú không chỉ vào một thời điểm nào đó mới nhớ tới bởi thế Huy Cận mới khẳng định “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Bài thơ Tràng giang đã cho chúng ta thấy được một bức tranh thiên nhiên vắng lặng, u buồn dưới ngòi bút tài ba của nhà thơ Huy Cận qua sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và cổ điển. Quan đó cũng nói lên tâm trạng và tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ.

Mai Du

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...